Bác Hồ kính yêu
   

Trang chủ

Cuộc đời hoạt động

Hồ Chí Minh-con người và phong cách

Lời dạy của Bác Hồ về đạo đức, lối sống

Bình dị những nơi ở

Hành trang giản dị

Tấm gương rèn luyện

Tài ứng khẩu của Bác

Những lời dạy dễ hiểu

Nâng niu tất cả chỉ quên mình

Những mẩu chuyện về Bác

Bác Hồ với nhân dân ta

Thực hiện di chúc của Bác

Thơ chúc tết của Bác

Những vần thơ về Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh tên người sống mãi

Những hình ảnh về Bác

Bảo tàng Hồ Chí Minh

 

 


NÂNG NIU TẤT CẢ CHỈ QUÊN MÌNH

Một lần một người bạn nước ngoài hỏi Bác về tài sản riêng Bác vui vẻ chỉ đàn cá Bác đang cho ǎn và nói. "Đây là tài sản của tôi". Bác sống trọn cuộc đời cống hiến, ra đi không để lại chút gì riêng tư, từ nguồn vui gia đình sản phẩm tinh thần quý giá của con người bình thường, đến tài sản vật chất.

Suốt cuộc đời Bác chỉ nghĩ đến giải phóng những người lao động cần lao, nghĩ đến nhân dân mình, dân tộc mình. Lo từ việc nhỏ bình thường đến đại sự quốc gia. Quan tâm từ miếng ǎn cho người nghèo đến sự thái bình cho dân tộc. Nhớ hồi làm phụ bếp bên Anh, khi rửa bát đĩa, Bác để riêng những thức ǎn thừa còn lại, gói vào một gói, khi về mang ra cho những người nghèo khổ ǎn xin ngoài đường. Khi dự tiệc chiêu đãi ở Pari, ra về Bác dành quả táo cho em nhỏ. Khi mùa hè đến? mồ hôi thấm áo, Người nghĩ đến những chiến sỹ phòng không trên trận địa nóng bỏng. Khi đi công tác ở nước ngoài được biết có loại cây lá xanh quanh nǎm không rụng lá, Bác nghĩ tới chị lao công đêm đêm vất vả quét lá nên Bác khuyên tìm cách đưa loại cây ấy về nước. Khi đi thǎm hồ Suối Hai thấy nhà nghỉ của Tỉnh ủy xây to đẹp, Bác bảo phải lo xây nhà cho nhân dân lao động trước. Lúc đi công tác xa lâu ngày Bác nghĩ đến những người phục vụ mình ở nhà, Bác dặn những ngày Bác đi xa các chú tranh thủ về thǎm quê hương gia đình. Đối với người phục vụ, Bác quý trọng xem như những người thân thiết nhất, Bác không có gia đình riêng, họ là những người gần gũi với Bác như những người ruột thịt. Đầu tháng 5- 1948, đồng chí Lộc, người nấu ǎn cho Bác không may bị sót rét ác tính mất. Bác thương xót, và đã khóc như mất đi một người ruột thịt. Đến ngày kỷ niệm sinh nhật Bác, anh em tìm một bó hoa rừng chúc mừng sinh nhật Người. Trong phút giây xúc động, Bác rơm rớm nước mắt:

- Cảm ơn các chú, nhưng bó hoa này ta mang ra đặt lên mộ đồng chí Lộc.

Và Bác kể cho mọi người nghe về cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lộc. Đồng chí vốn là Việt kiều ở Thái Lan, gặp Bác bên đó, đồng chí đã đi theo giúp việc Bác. Hai người thường quẩy hai bồ thuốc giả làm người đi bán thuốc rong, đi đến nơi có bà con Việt kiều để tuyên truyền cách mạng. Bác sang Trung Quốc đồng chí Lộc cũng theo sang, rồi cùng về nước với Bác. Đồng chí lo công việc ǎn uống cho Bác. Hồi đó sinh hoạt khó khǎn, có lúc phải ǎn ngô bung, hoặc cơm độn ngô, đồng chí Lộc bao giờ cũng dành phần nhiều cơm cho Bác. Bữa nào đồng chí cũng chắt lấy nước cơm đặc, nài nỷ Bác uống cho kỳ được. Cách mạng tháng Tám thành công: đồng chí xung phong ở lại xây dựng công binh xưởng cho cách mạng. Theo Bác hoat động cách mạng ở nước ngoài, tới khi cách mạng thành công đồng chí Lộc vẫn an tâm vui vẻ làm một công việc hết sức bình thường - nấu cơm cho Bác.

Phục vụ Bác có nhiều anh em dân tộc ở Cao Bằng. Có đồng chí được một thời gian nhớ nhà và cũng vì hoàn cảnh gia đình nên xin Bác cho về giúp gia đình. Bác rất muốn đồng chí cùng ở lại nhưng vì hoàn cảnh gia đình và ý nguyện của họ, Bác đồng ý. Khi có ai đi công tác lên vùng đó Bác nhờ ghé vào thǎm, nhắc nhở địa phương giúp đỡ đồng chí khi gặp khó khǎn. Thời gian ở Pắc Bó có lần Bác nhận được gói quà có đường và lạc. Bác cho làm kẹo và báo đồng chí Cáp mang vào trong bản phân phát cho các cháu. Mọi người rất muốn để lại cho Bác bồi dưỡng, biết ý Bác nói: "Người già nên để kẹo cho các cháu" trước lý lẽ của Bác, đồng chí Cáp Phải mang kẹo vào cho các cháu. Hồi ở Tân Trào, đồng chí Thắng mới được cử về phục vụ Bác. Đồng chí chí có một: bộ quần áo vải mộc. Khi làm việc với Bác đồng chí cố nén không ho, nhưng vừa ra khỏi nhà đồng chí ho rũ rượi, thấy vậy Bảc bảo: "Chú Thắng ốm à". "Sao trông người chú khác thế". Nói rồi Bác đứng dậy lấy chiếc áo trấn thủ của mình đưa cho đồng chí và dặn: "Chú mặc tạm cho đỡ lạnh, mùa đông cốt nhất phải giữ ngực cho ấm". Đồng chí Tháng ngần ngại không dám cầm, vì thấy Bác không có áo ấm tốt mà Bác cũng phải mặc độn nhiều áo. Thấy vậy Bác giục, rồi Bác hiền từ giúp đồng chí cài từng chiếc nút áo. Có lần Bác đến thǎm đồng chí Lê Trọng Tấn, gia đình làm bánh mời Bác, Bác ǎn một miếng thấy ngon, Bác xin một ít mang về cho anh em phục vụ. Hồi ở Việt Bắc, kỹ sư Trần Đại Nghĩa dồn hết trí tuệ tâm huyết để nghiên cứu vũ khí mới cho quân đội. Biết kỹ sư thường làm việc ban đêm, có khi làm việc suốt sáng, lại nghiện thuốc lá Bác dành một phần thuốc của mình đến biếu kỹ sư. Sau đó Bác chỉ thị cho hậu cần dù khó khǎn cũng cố tìm thuốc lá đủ hút cho kỹ sư. Có lần về ban đêm đồng chí bảo vệ đứng gác nơi ở của Bác không may trượt chân rơi xuống hầm tránh máy bay. Nghe tiếng động Bác vội chạy ra không kịp đi dép và mặc áo ấm Bác giúp đồng chí lên khỏi miệng hầm, Bác nắn bóp chân cho đồng chí ấy rồi ân cần bảo: "Chú cứ ngồi yên cho đỡ đau, để Bác gác cho". Đồng chí cảm động nói không nên lời, chỉ biết làm theo. Về mùa đông Bác ở gác hai trên nhà sàn nên gió lạnh, cơ quan tìm cho Bác chiếc lò sưởi điện. Một lần nửa đêm gió lạnh, Bác thức giấc dậy nghe tiếng người gác ho phía dưới. Bác cầm chiếc lò sưởi điện và tự tay nối dây điện từ trên gác hai xuống cho đồng chí bảo vệ, và nói: "Bác nằm trên nhà đã có chǎn đắp ấm rồil". Một buổi trưa, thấy đã quá giờ đổi gác bình thường, Bác mang chuối xuống mời, đồng chí bảo vệ thưa với Bác đang bận gác không đặt súng xuống được, xin Bác lúc khác. Bác bảo đưa súng Bác cầm gác cho: "ǎn đi kẻo đói, cốt là ǎn lúc này". Đồng chí Tùng vừa được chuyển từ một đơn vị ở chiến trường về làm nhiệm vụ bảo vệ Bác. Một hôm Bác đang cho cá ǎn đồng chí đứng gác từ xa. Bác gọi lại hỏi thǎm sức khoẻ gia đình vợ con... Bác nói" Thế là chú về chỗ Bác được 3 tháng rồi đấy nhỉ? Dạo nàv chú đã hết sốt rét chưa" đồng chí Tùng không cầm được nước mắt không ngờ Bác bận trǎm công nghìn việc mà vẫn chú ý đến một chiến sĩ bình thường như mình. Bác không những nhớ mặt, nhớ tên từng người mà còn hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, tâm tư tình cảm của họ. Bác không những quan sát đến đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn lo lắng tới sự tiến bộ trong công tác của từng người - Bác thường nhắc nhở mỗi người mỗi việc cố gắng tiến bộ không ngừng. Bác ân cần hỏi dồng chí Tùng:"Chú về đây đã khá lâu, thế chú có biết cầu thang lên xuống nơi cạnh chú đứng có mấy bậc?" Những việc tưởng bình thường nhưng đối với người công an, bảo vệ càng cần phải tỷ mỉ, sâu sát cụ thể. Một đêm, lúc khoảng hai giờ mưa phùn gió bấc, Bác thức giấc đi xuống cầu thang đến cạnh đồng chí bảo vệ, Bác hỏi: "Chú gác từ mấy giờ?","Chú mặc thế có đủ ấm không?", Bác đến gần sửa lại vành mũ và kéo lại cổ áo cho kín và bảo: "Lần sau chú gác đêm giá lạnh nhớ đi giày, nếu đi dép phải có tất cho đủ ấm, đi dép chân không đêm sương giá lạnh dễ bị ốm".

Thời gian sau ngày giải phóng, mới về Hà Nội nhân ngày Tết cổ truyền, các đồng chí bảo vệ, phục vụ mang bó hoa đến chúc Tết Bác. Bác rất vui mừng và nói:"Các chú khéo vẽ chuyện, Bác và các chú sống bên nhau hàng ngày, việc gì phải hoa. Từ nay các chú tǎng gia được rau, xu hào, bắp cải, Tết đến chọn mấy cây đẹp cho vào chậu cảnh mang tới biếu Bác, Bác sẽ để trước cửa phòng khách, khách đến Bác sẽ giới thiệu của các chú biếu Bác, thế là Bác có quà tặng, các chú lại được Bác tuyên tryền cho. Hết Tết các chú lại mang về chén, như vậy chẳng mất gì cả". Từ đó thành thông lệ, hàng nǎm Tết đến anh em chọn 4 cây bắp cải, 4 cây xu hào loại to đẹp nhất tới chúc Tết Bác. Những cây xu hào bắp cải xen lẫn với gốc quất, gốc đào góp thêm thi vị bên ngôi nhà Bác ở. Nhớ lại đầu nǎm 1946, nơi nghỉ của anh em bảo vệ Bác ở Bắc Bộ phủ, về mùa hè nóng ẩm vì ở nhà kho cũ, chật chội. Thấy thế, Bác cho lên phòng khách ngủ cho thoáng mát. ở phòng khách anh em sơ ý làm vỡ mặt đá của chiếc bàn lớn. Đồng chí cán bộ phụ trách cáu gắt nặng nề và không cho anh em lên đó ngủ nữa. Bác nghiêm khắc bảo:"Cái bàn quý hơn hay anh em chiến sỹ quý hơn. Vỡ sau ta tìm cái khác, chỉ cần giáo dục anh em có ý thức bảo vệ của công. Chú mở cửa cho anh em vào ngủ tiếp". Tuy bận nhưng Bác vẫn thường xuyên xuống nhà bếp, khu vệ sinh để kiểm tra xem có sạch sẽ không. Bữa ǎn có những món gì phải mua, món gì tǎng gia cải thiện được. Nhớ ngày Tết cuối cùng của Bác, Bác và Bác Tôn chụp ảnh chung với anh em trong đội bảo vệ có đồng chí Cương ít tuổi nhất được Bác rất quý. Trước khi chụp ảnh Bác gọi:"Viên kim cương của Bác đâu, lại đây đứng bên Bác"- Bác quan tâm từ cái lớn, sâu sát từ cái nhỏ đời thường của anh em. ở chiến khu việt Bắc, tối ngủ anh em thường để dép lộn xộn khi báo động hoặc sáng dậy, lẫn dép lung tung. Trước khi ngủ Bác đi kiểm tra một vòng, sắp xếp lại gọn gàng đôi nào đôi nấy sáng ra ai cũng ngạc nhiên, sau mới biết tối qua Bác kiểm tra và xếp lại. Từ đó trở đi nội vụ từ đôi dép đến đồ dùng cá nhân anh em đều sắp xếp ngǎn nắp. Bác đi thǎm nhiều nơi, nhưng không qua loa đại khái, Bác quan tâm đến tập thể nhưng không quên cái nhỏ nhất của người dân. Bác không những rất ghét tội tham ô ǎn cắp của dân mà còn phê bình gay gắt bệnh hình thức dối cấp trên lừa dân. Bác đến thǎm một cơ quan thấy đèn trang trí từ cổng vào nhà hội trường sáng trưng, xung quanh khẩu hiệu đèn xanh đèn đỏ loè loẹt, Bác đi thẳng vào nơi ǎn ở khu vệ sinh của cán bộ thấy tối tǎm chật chội. Bác cho tập trung cán bộ chủ chốt trong cơ quan, Bác chỉ nói: "Các chú không thương quần chúng". Khi duyệt các chủ trương, chỉ thị Bác sửa chữa nhiều nhất chú ý nhiều nhất ở chỗ có quan tâm đến lợi ích, đời sống sinh hoạt của quần chúng hay không. Có lần đồng chí Nguyễn Tạo lên báo cáo Bác về phong trào trồng cây. Khi nghe xong được biết các cụ có thành tích rất lớn, Bác hỏi: "Thế công sá đối với các cụ thế nào", Đồng chí Tạo trả lời Bác: "Thưa Bác các Cụ ǎn theo công diểm của hợp tác xã ạ" Bác hỏi cụ thể và được biết các loại cây như nhãn, vải, cam, quít. Khi thu hoạch các Cụ không được hưởng phần nào, Bác phê bình, đồng chí thưa với Bác sẽ về nhắc các địa phương dành một phần thu hoạch biếu các cụ Bác nói ngay: "Không phải biếu mà các Cụ có quyền hưởng, người nào làm nhiều hưởng nhiều, hợp tác xã chia cho các Cụ như vậy là không công bằng, không theo nguyên tắc phân phối lao động xã hội chủ nghĩa - ai làm nhiều hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít", Nǎm 1963, Bác về thǎm tỉnh Vĩnh Phú, trên đường Bác rẽ vào một gia đình nông dân. Gặp bà cụ già, Bác hỏi thǎm sức khoẻ và kinh tế, Cụ thưa gia đình có 5 người được chia 3 tạ thóc. Bác hói: "Thế có đủ ǎn không?", Cụ già chưa kịp trả lời thì một đồng chí trong tỉnh uỷ trả lời: 'Thưa Bác, đấy mới là hợp tác xã chia tạm chưa phải chính thức". Bác phê bình ngay: "Bác có hỏi chú đâu mà chú trả lời". Như được thêm chỗ dựa lòng tin, Cụ già thưa thật với Bác hằng nǎm, nếu ǎn uống theo định lượng tằn tiện, độn thêm ngô sắn thì cũng tạm đủ". Rồi Bác bảo đồng chí có trách nhiệm nghe nói để tính toán lại cho sát đừng để dân quá vất vả thiệt thòi. Nhà nước phải lấy phục vụ dân làm chính. Nǎm 1960, Bác ra thǎm đảo Tuần Châu (Vịnh Hạ Long) khi ca nô vừa rời bến thì trong bờ có tiếng vọng ra: "Sao các ông không cho tôi gặp Cụ Hồ". Biết chuyện Bác cho ca nô quay lại, trên bờ một cụ già trên 70 tuổi bị mù, Bác vội chạy đến chỗ cụ và nói: "Thưa cụ, tôi đây, Cụ có khoẻ không". Nghe tiếng Bác, cụ già đứng không vững nữa, khuỵ xuống trên cánh tay nâng đỡ của Bác: "Bác đây ư Bác Hồ, tôi được gặp Bác thật ư! ". Đôi bàn tay xương xẩu của cụ già vuốt trên cánh tay, trên vai Bác, hai dòng nước mắt trào ra từ đôi mắt mù loà của cụ chảy xuống hai gò má nhǎn nheo. Bác đứng lặng hồi lâu, xúc động. Mọi người đứng lặng cảm động trước tình cảm của hai con người. Một lần đến thǎm bệnh viện Bạch Mai mọi người ra đón và tặng hoa, Bác nhận bó hoa rồi đên tặng một cụ già đang trông xe đạp ở cổng bệnh viện. Bác bảo với cụ và mọi người: "Cụ trông xe đạp cũng rất quan trọng, nếu mà trông không cẩn thận mất xe đạp của các cô các chú, hỏi có ai an tâm công tác không?" Một lần đến thǎm một nhà máy thấy cô công nhân đang chạy máy để bộ tóc dài, Bác ra hiệu dừng máy đến gần ân cần nhắc: "Cháu là gái khi lao động vấn tóc lên và đội mũ bảo hiểm để bảo đảm an toàn, bộ tóc là góc con gái". Lần đi thǎm Vĩnh Phú, trên đường thấy hai chị em ǎn mặc rách rưới, dắt tay nhau đi, Bác cho dừng xe hỏi chuyện hai chị em về hoàn cảnh gia đình, bố mẹ, được biết bố hai em đi bộ đội, Bác hỏi ǎn có đủ không, trưa, sáng ǎn gì, cùng lúc đó có đồng chí tự xưng là cán bộ xã nhanh nhẩu trả lời thay hai em, Bác nhắc nhở: "Bác có hỏi chú đâu, nếu chú là cán bộ xã thì tại sao lại để con cái người đi bộ đội phải ǎn mặc, đói rách thế này". Dọc đường, thấy cột số Km chỉ ghi rõ chữ số 65 còn chữ địa danh bị mờ, Bác nhắc nhở cán bộ giao thông phải chú ý để sửa lại. Đi qua Cổ Nhuế, thấy dân bón rau phân tươi, Bác nhắc phải đề phòng ruồi, bệnh tật vệ sinh. Đến trạm bơm Chèm, thấy chân đê bị sụt lở, Bác nhắc trồng tre để bảo vệ đê. Khi giải quyết các vụ tranh chấp đất đai nhà cửa, các đồng chí phân tích người này sai, người kia có khuyết điểm. Bác kết luận, do chỗ ở quá chật chội nên mới sinh ra tranh chấp, chứ phải người ta ghét bỏ nhau đâu. Khi đến thǎm nhà dân nơi chật chội, ổ chuột, bẩn thỉu, Bác phê bình gay gắt cán bộ không sâu sát dân, quan liêu, không thương dân, phải tìm mọi cách vận động, tổ chức bà con dọn vệ sinh, sửa sang nhà cửa, lối ra vào và phối hợp với cơ quan chức nǎng lo nhà cho dân. Khi về hợp tác xã thǎm nông dân, Bác xuống tận các gia đình để biết mức sống của dân chứ không nghe hoàn toàn các báo cáo. Thǎm xã Nam Chính, Bác vào nhà anh Giao một nông dân lao động cần cù, đứng ngoài sân, Bác hỏi mấy câu chuyện làm ǎn sinh hoạt đời sống rồi vào nhà xem vại gạo, cót thóc, vòng ra phía sau xem chuồng lợn, nhà vệ sinh, thấy hai con lợn đang án. Bác khen lợn đẹp, giống lợn thẳng lưng mông to chắc chóng lớn, rồi Bác xem giếng nước, nhà tắm, Bác nhìn xuống giếng và bảo: "Giếng nên có nắp đậy, vừa sạch vừa đề phòng tai nạn". Xem nhà tắm Bác khen xây thế này là tốt nhưng nên đơn giản hơn trong lúc ít gạch, nhà nào không có gạch nên làm bằng cót, trồng cây dâm bụt xung quanh, khi cót hỏng thì dâm bụt đã tạo thành nhà tắm kín đáo mà đẹp.

Nhiều lúc Bác muốn đi dã ngoại bí mật vừa thǎm dân được lâu, rõ hơn và thay đổi không khí. Bác bảo đồng chí phục vụ chuẩn bị thức ǎn, không nói với ai, sáng đi sớm không mang theo bảo vệ và quay phim, chụp ảnh. Hành trình Bác định trước đến đâu thǎm nơi nào, nghỉ ǎn cơm ở đâu, mấy giờ về... Bác thấy đi như vậy thoải mái, thích thú lại đỡ tốn thời gian và tiền bạc. Vì một lần Bác về thǎm một tỉnh nghèo cán bộ tỉnh tổ chức liên hoan linh đình đón Bác, Bác bảo: "Các chú làm thế này thì lần sau dân không ai mong Bác về nữa các chú cho công an, bộ đội đứng gác khắp nơi làm dân họ sợ không dám đến gần Bác. Mà dân có đến cũng là do các chú sắp đặt nên không tự nhiên vui vẻ" . Đến thǎm vào mùa rét Bác đội mũ lông, quấn khǎn kín, hôm đó các đồng chí quay phim nhiếp ảnh đông Bác nói vui, hôm nay Bác không biểu diễn đâu, các chú chẳng có làm ǎn được gì. Hôm đó vui kể chuyện đồng chí bác sĩ người Cửu Long kể ở trong đó có những con tôm to bằng bắp tay, đồng chí Vũ Kỳ không tin, Bác cười góp vui nghe nói Đồng Tháp mười có muỗi to lắm, muỗi đậu ngoài màn người nằm trong màn nắm được chân nó, nó dẫy hai cánh đập như hai cái quạt máy mát lắm, mọi người được phen cười vui vẻ. 
Tết nǎm 1966, Bác về thǎm tỉnh Thái Bình. Ngày 30 Tết Bác đi thǎm và nói chuyện một số nơi. Đêm 30 Tết; Bác tranh thủ làm việc, liên quan đến chương trình mồng Một Tết, Gần đến Giao thừa, đồng chí phục vụ mời Bác đi nghỉ. Bác bảo "Còn ít phút nữa bước sang nǎm mới, cộng việc của nǎm cũ không nên để lại". Xong công việc thời gian đã chuyển sang nǎm mới, biết phòng bên có nhiều người thức dậy đón nǎm mới, Bác xách đèn bão sang thǎm và chúc tết mọi người, sau đó Bác trở về làm việc tiếp. Bác về thǎm tỉnh lần thứ 5, Bác bảo Thái Bình là tỉnh 5 tấn, Bác đã về 5 lần, nếu thêm nhiều tấn nùa Bác sẽ về nhiều nữa.

Lòng tin ở nhân dân trong Bác là tuyệt đối, Bác bảo nếu trong dân còn người xấu, họ chưa yêu cách mạng thì cách mạng phải tỏ rõ lòng khoan dung, thuyết phục chứ tuyệt đối không bắt ép. Có lần Bác về thǎm tỉnh Yên Bái, các đồng chí bố trí mít tinh đón Bác trong doanh trại tỉnh đội Bác không đồng ý, Bác nói mít tinh đón Bác không nên làm trong đơn vị bộ đội, các chú canh gác cẩn mật thì ai dám vào, vả lại nếu mọi người vào được thì còn đâu là cẩn mật. Theo ý Bác nên chọn chỗ nào thuận tiện để mọi người đến được, thành phần đến tham dự là toàn dân. Các đồng chí bảo vệ cứ bǎn khoǎn sợ kẻ xấu lẫn vào, biết được ý nghĩ đó, Bác nói: "Những người xấu cũng cho họ vào, nếu không cho họ nghe chuyện thì làm sao họ giác ngộ được, họ sẽ không làm điều gì xấu đâu". Lần về thǎm mỏ Quảng Ninh công nhân phấn khởi chạy ào ra đón Bác, có chị cũng vội bế con chạy ra đón Bác, vì vội quá nên không kịp thấy trong tay con mình cầm vật gì. Thấy hai mẹ con chạy vội, Bác ôn tồn: "Đi từ từ kẻo ngã" Bác tiến lại gần hai mẹ con, Bác nhẹ nhàng gỡ con dao nhỏ trên tay đứa bé rồi đưa cho chị và ân cần dặn: "Đừng cho trẻ con chơi dao, nguy hiểm" , lúc đó mọi người mới nhận ra. Bác đi thǎm đảo Vạn Hoa, Bác hỏi các chiến sỹ có được xem phim, xem vǎn nghệ thường xuyên không, các chiến sĩ trả lời Bác là 6 tháng được xem phim một lần, còn vǎn nghệ thì chưa lần nào. Bác quay sang đồng chí Lê Trọng Tấn nói: "Hôm nay có ông tướng đi cùng đây "ông" nghĩ thế nào?". Đồng chí hứa với Bác là sẽ sửa chữa khuyết điểm, Bác nói ngay: "Chú hứa chung chung quá" đồng chí hứa với Bác là 6 tháng một lần xem vǎn công còn 3 tháng một lần xem phim, Bác gật đầu, cười đồng ý.
Ban Việt kiều đưa lên Bác kế hoạch đón Việt kiều ở Thái Lan về nước Bác phê bình, là chỉ chú trọng đến lễ đón tiếp chứ không chú ý bố trí công ǎn việc làm, nơi ǎn ở cho người về nước, Bác chỉ thị, phải có biện pháp cụ thể cho tương lai của kiều bào, sử dụng hợp lý khả nǎng chuyên môn, công việc của họ, và trường học cho con em Việt Kiều.

Bác giáo dục cán bộ đối với nhân dân không được phân biệt, cách biệt, không được có thái độ cho dân vùng này tốt nơi kia xấu, ở đâu, người nào cũng phải bình đảng, tôn trọng yêu quý nhân dân thì họ mới yêu quý cán bộ. Đối với dân tộc ít người, tôn giáo hay Việt kiều về nước, tinh thần đại đoàn kết của Bác luôn luôn được mọi tầng lớp mọi giới ủng hộ.

Bác đến thǎm huyện Mường Tè, nơi xa xôi của tỉnh Lai Châu, khi thấy nhân dân còn cực khổ lạc hậu, Bác đi bộ xuống tận bản làng nơi nhân dân đang sống theo tập quán cũ, Bác bảo, chúng ta có Đảng, có Chính quyền nhưng chưa mang ánh sáng vǎn minh đến những vùng cao như ở đây, chúng ta còn có lỗi với dân, rồi Bác chỉ thị cho cán bộ địa phương phải có biện pháp cụ thể giúp đỡ đồng bào cải thiện đời sống, lối sống, để họ dần dần tiến kịp miền xuôi, có như vậy cách mạng mới thực sự của toàn dân, công bằng với mọi nơi. Nǎm 1957 , Bác về thǎm Đồng Hới, khi được biết nguyện vọng của đại biểu Phật giáo thiên chúa giáo xin được thǎm Bác. Mặc dầu chương trình rất nhiều, Bác bảo, gặp cán bộ cốt cán, đảng viên thì lúc nào cũng được, bây giờ các chú để Bác được gặp các Cụ. Bác đi bộ đến chỗ các cụ đã tập trung đông đủ, lúc đó có một bà cụ thay mặt mọi người mang bó hoa lên tặng Bác. Bác sung sướng cầm bó hoa và cảm ơn, rồi nhanh nhẹn tách bó hoa làm đôi đi đến tặng cho sư Phổ Minh và cha cố Thông. Những người có mặt lúc đó ai cũng cảm động và quý phục phong cách linh hoạt tài tình của Bác. Một biểu hiện đoàn kết tôn giáo cao quý đẹp đẽ cử chỉ đó của Bác đã nói bao điều mà ai cũng hiểu, ghi nhớ sâu sắc Hai lần về thǎm quê hương Nghệ An, Bác đều đến thǎm Hội Phật giáo, sư bà Thích Dlệu Niệm tặng Bác lẵng hoa làm theo 5 cánh "5 chân lý hợp nhất" và một bài thơ, Bác trân trọng nhận hoa và đọc thơ, xong Bác lấy bút đề tặng lại thơ cho nhà sư nữ và cho cả tǎng ni phật tử Nghệ An. Đến nǎm 1962, Bác đến thǎm trường Hội Phật giáo, lúc đó sư nữ Thích Diệu Niệm cũng ra học, từ xa Bác đã nhận ra, Bác đến nói chuyện hỏi han công việc Hội Phật giáo Nghệ An, nhà sư tặng Bác bài thơ, ý trong bài thơ là làm tốt những điều Bác dặn khi hai lần về thǎm quê, Bác vui vẻ bảo: "Như ri thì sư nhớ lời Bác dặn".

Bác quý trọng nhân cách con người. dù người đó là ai, tầng lớp nào, bên Bác dẫu một lần ai cũng cảm thấy giá trị của cuộc đời được nâng lên. Bác không bao giờ nói "cho" mà chỉ nói "biếu cô", "biếu chú'', "tặng cô", tặng chú"... Bác không ngồi nghe khi người khác đứng nói, sẵn có ghế Bác mời cùng ngồi, nếu không có ghế thì cùng đứng có lần đến thǎm bà con nông dân, có các cụ già đến nghe Bác nói chuyện không có ghế phải ngồi xuống đất, Bác bảo tìm ghế cho các cụ rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện với mọi người.

Khi có chút quà ngon, Bác không dành riêng cho mình, mà dẫu ít Bác cũng chia đều cho anh em phục vụ. Bác không quan niệm "lộc bất tận hưởng" một cách máy móc, mà xuất phát từ tấm lòng quý trọng con người. Có đồng chí đi họp ở Pari về, mang biếu Bác gói kẹo mà ở bên Pháp Bác rất thích. Có kẹo ngon, lạl hiếm, Bác đem chia đều cho mọi người, có người thấy kẹo của Bác chỉ có ít, muốn để dành cho Bác ǎn, nên từ chối không dám nhận, Bác bảo, ít cũng phải chia đều, mỗi người hưởng một ít. ở nhà sàn, buổi trưa xung quanh mọi người ngủ trưa yên tĩnh, có việc lên xuống, Bác ghì quả chuông treo ở cầu thang lên xuống cho nó khỏi kêu, làm anh hưởng đến giấc ngủ mọi người. Bác bận nhiều việc lớn của Đảng, của Nhà nước nhưng việc nhỏ Bác không quên, khi có anh em phục vụ đi phép, Bác đến gửi quà và gửi lời thǎm sức khoẻ gia đình, khi trả phép Bác đến hỏi han tình hình gia đình. Có đồng chí vì bận công tác không về thǎm quê và gia đình được, khi người nhà lên thǎm, Bác biết bao giờ Bác cũng gặp, nếu gặp vào đúng tối thứ bảy có phim, Bác mời xem phim. Có một lần trong buổi xem phim, Bác thấy một cụ già ngồi xem, lúc đó hỏi thǎm không tiện, sau Bác hỏi đồng chí Vũ Kỳ cụ già xem phim là ai mà không báo để Bác biết tiếp chuyện, được biết là bố của bác sĩ Mẫn (người bảo vệ sức khoẻ riêng của Bác ) lúc đó cụ già đã lên đường về quê, vì không gặp được cụ, Bác gửi bác sĩ Mẫn một chai mật ong nhờ chuyển về làm quà biếu cụ. Cụ già ở quê rất cảm động khi đón nhận món quà quý giá của Chủ tịch nước gửi. Hàng nǎm đến tối 30 Tết, anh em không về quê đón Tết. Bác tổ chức gặp mặt tất niên. Bác thường bố trí Bác ngồi một bên bàn còn Thủ tướng Phạm Vǎn Đồng ngồi đối diện, anh em ngồi quây quần xung quanh, đêm giao thừa có hai Bác và anh em nên không khí trong Phủ Chủ tịch thêm ấm cúng không khí gia đình. Khi mọi người yên chỗ ngồi, Bác đi một vòng xung quanh kiểm tra xem còn thiếu ai. Nếu thiếu Bác dặn đồng chí cấp dưỡng để phần lại cho anh em đi vắng. Những anh em ngồi cạnh Bác lúc đầu thường e dè, không tự nhiên tay cầm đũa cứ lóng ngóng. Bác chủ động gắp thức ǎn và động viên, có khi Bác pha trò một câu gì đó tạo không khí vui vẻ những lúc đó Bác hiện thân một người Cha bên đàn con yêu quý trong giờ phút thiêng liêng chuyển nǎm cũ sang nǎm mới. Xong buổi liên hoan Bác cùng anh em chụp ảnh lưu niệm và vui vǎn nghệ "cây nhà lá vườn" Bác đi thǎm nước ngoài nhiều lần, họ biếu Bác nhiều tiền và quà , Bác cho vào công quý hết, cái nào chia được Bác chia cho anh em. Mỗi lần đi nước ngoài về Bác thường mua quà kỷ niệm cho anh em phục vụ, khi đôi bít tất lúc chiếc khǎn hay gói kẹo.

Bác sống cuộc đời một vị Chủ tịch nước, nhưng mỗi người chúng ta đều thấy một phần cuộc đời mình trong đó, bởi vì Bác là hiện thân cốt cách dân tộc, là cái chung trong mỗi cái riêng.
Bác chu tất với mọi người, mọi việc, có lần Bác đi qua nhà ǎn thấy đồng chí Lơ người nấu ǎn cho Bác đang dùng cát để đánh xoong cho sạch, Bác rẽ vào bày cách đánh xoong nồi chóng sạch lại không bị xước mòn. Hồi ở chiến khu khi đi trong rừng gặp trời mưa vắt nhiều, Bác bày cho cách dùng tàn thuốc lá để chống vắt rất hiệu quả Bác thường xuyên khuyên bác sĩ học cách chữa bệnh bằng thuốc nam, ta là người nam hợp với thuốc nam vì cha ông tổ tiên đã để lại kinh nghiệm quý báu đó ta nên phát huy thêm. Bác kể chuyện hồi xưa Bác đi bộ từ Nghệ An vào Huế. Dọc đường chân bị sưng lên đau không đi được nhờ xoa bóp bằng nước tiểu đỡ đau mới đi tiếp được. Khi về già có lần Bác đau ở bả vai, bác sĩ cho chạy vật lý trị liệu mãi không khỏi, Bác lấy lá ngải cứu vò với nước tiểu xoa vào chỗ đau, chỉ mấy lần làm thấy giảm hẳn.

Đối với khách là người nước ngoài nếu là người quen biết từ trước, Bác tiếp không những trên cương vị Chủ tịch nước mà còn trên tình cảm anh em gần gũi, khách đến tuy là lần đầu Bác cũng rất chu tất, truớc khi khách về nước, Bác đến thǎm, gửi quà... hôm sau Bác lại đến chia tay. Bác bảo họ là khách, mình là chủ làm thế mới có tình có nghĩa. Rời Việt Nam, nhưng khách không quên Việt Nam có Bác Hồ, con người của mọi người. Một lần có vị quan chức của một nước đi thǎm các nước láng giềng quanh ta, người này có cảm tình với Việt Nam. Lúc đó nước ta đang có chiến tranh, có người đến bàn với Bác, ta lấy cớ không có điều kiện tiếp nên không mời, Bác bảo "Khi người anh em đi qua trước ngõ không mời vào nhà chơi là không lịch sự" Bác đích danh mời vị đó vào thǎm. Khi về nước vị khách hết lòng ca ngợi Việt Nam và tích cực ủng hộ nhân dân Việt Nam chiến đấu.

Bác quan tâm con người không chung chung, mà rất cụ thể, không những đối với những người gần gũi bên Bác, những người Bác gặp mà còn đến những người có thể Bác không gặp. Khi đi qua chiếc cầu gập ghềnh hay gặp hòn đá khập khiễng Bác dừng lại cùng anh em sửa sang cho chắc để người đi sau khỏi gặp nguy hiểm. Lội qua suối gặp hòn đá trơn Bác cúi xuống nhặt ném đi xa để người đi sau không bị ngã. Có lần đi chiến dịch, đường đi nhiều ổ gà, phía trước có hòn đá to, đồng chí lái xe cứ cho xe vượt, không ngờ xe va vào hòn đá bị hỏng, Bác xuống xe, chiếu đèn pin giúp cho các đồng chi sửa xe, Bác động viên cứ bình tĩnh chữa cho cẩn thận. Khi xe sửa chữa xong tiếp tục lên đường, bấy giờ Bác mới nói: "Đáng ra lúc nãy chú cho xe dừng lại lǎn hòn đá xuống vực rồi mới đi, có lâu cũng chỉ dǎm phút, không phải dừng sửa chữa mất hơn nửa tiếng, mà lại giúp các xe sau không bị nạn, chú đã "tham đĩa bỏ mâm".

Trên đường ra trận Bác cùng lǎn lộn với anh em, cùng đổ mồ hôi cùng sôi khí thế. Khi đi chỗ đường trơn, suối đá trơn gập ghềnh, anh em bảo vệ muốn giúp Bác kảo ngã, Bác bảo tự Bác đi dễ hơn, hơn nữa Bác đi nhanh và khéo hơn các chú đấy. Có lần mùa mưa, gặp con suối nước chảy xiết, việc cần gấp phải qua, các đồng chí đang lúng túng không biết làm sao qua được. Bác bảo tìm sợi dây rừng thật chắc buộc chặt vào người rồi dìu dắt nhau qua, Nhớ lần Đại Hội Đảng lần thứ II ở Tuyên Quang, Bác biết chị Quý nhân viên phục vụ Đại hội mới sinh cháu bé được 5 tháng, Bác bảo, Bác sẽ đến thǎm, vì ngại nơi ở xa và chưa chu tất, gia đình muốn bế cháu đến thǎm Bác. Bác bảo, ông phải đến thǎm cháu chứ. Thế rồi Bác tranh thủ thời gian đến thǎm, cho quà và chụp ảnh với cháu. Nhạc sỹ Phong Nhã lên báo cáo với Bác về tình hình thiếu nhi. Nhạc sĩ chuẩn bị nhiều nội dung lớn, nhưng khi lên Bác chỉ hỏi kỹ về việc các cháu con nhà nghèo vào đội ra sao, việc ǎn ở, học hành, vui chơi thế nào, Bác chǎm chú lắng nghe nhạc sĩ kể về các cháu tham gia mít tinh, tuần hành., cổ động. Bác đǎm chiêu nhìn ra trời. nắng nóng và nói, nhưng nhớ đừng để các cháu đi đầu trần dưới nắng dễ bị ốm. Mùa rét Bác chỉ thị cho Bộ Giáo dục khi nhiệt độ xuống 10 độ C thì cho các cháu học sinh cấp I nghỉ học, xuống dưới 10 độ C cho các cấp các trường nghỉ học.

Có lần Bác đến dự cuộc họp cán bộ cấp cao, khi nghỉ giải lao các đồng chí vào phòng giải khát riêng, còn anh em khác không thuộc diện tiêu chuẩn đứng ngoài uống nước trà, thấy vậy Bác ra mời anh em vào hết, Bác bảo: "Ai đến họp đều có phần như nhau". Cứ mỗi lần chiêu đãi khách khi tan tiệc Bác bảo "Theo tục lệ Việt Nam, khi đi ǎn cỗ thì phải có phần mang về, các chú nhớ lấy phần về chia cho người ở nhà cho các cháu, người được ǎn phải nhớ người ở nhà" . Việc đó thành nếp mãi về sau. Ai được Bác chiêu đãi đều có phần mang về cho người ở nhà.

Về tặng thưởng của Bác thì có nhiều với mọi đối tượng. Hồi mới đầu kháng chiến có một phóng viên nước ngoài gửi tặng Bác mấv bức ảnh, Người không quên gửi tặng lại ảnh có tựa đề thân thiện, Ai có thành tích kháng chiến Bác gửi thư khen ngợi gửi tặng quà là chiếc áo mà đồng bào tặng Bác Khi cấp dướí ốm đau Bác biết, Bác đến tận giường bệnh hỏi thǎm Người yêu thơ gửi thơ tặng Bác, Bác gửi tặng lại thơ những bài thơ đó thường là thơ tức cảnh, là cảm xúc thực, dung dị, xuất phát từ hoàn cảnh thực mà ai nhận được cũng cảm thấy gần gũi, xúc động bởi trái tim và tấm lòng Bác quá bao la, soi rõi tận tâm can xúc cảm của con người. Những ngày cuối cuộc kháng chiến, Bác nhận được thơ của hai cháu thân quen là Hà, Hạnh (con gái nhà vǎn Đặng Thai Mai). Bác viết thư trả lời và gửi kèm "Bài thơ tức cảnh khi thức giấc":

Kìa戠椀 挀琀Ⰰ 渀촀„爀渞最 ഀ਀        琀栀渀最Ⰰ㰀戀爀㸀ഀ਀        一뀀挞 渀뀀挞Ⰰ 渀漀渀 渀漀渀Ⰰ 欀栀漀 洀琞 瘀豈渀最Ⰰ㰀戀爀㸀ഀ਀        က愁渀最 ᄀ椞 渀最뀀椞 琀栀ꄀ 挀豈渀最 戀ꄀ渞 瘀봀Ⱎ㰀戀爀㸀ഀ਀        က뼁渞 挀栀ꄀ椁 挀ꌀ渞栀 琀爀 瘀椞 爀渞最 猀渀最⸀㰀戀爀㸀ഀ਀        吀愀礀 ᄀ渀Ⰰ 挀뜀瀞 猀挀栀Ⰰ 渀最 ᄀ꜁甞 戀ꄀ挞⸀㰀戀爀㸀ഀ਀        䠀팀„爀뀀甞Ⰰ 砀甀 渀攀洀Ⰰ ꌀ„洀 栀팀渞最⸀㰀戀爀㸀ഀ਀        က뀁挞 瀀栀瀀 渀最愀漀 搀甀 挀豈渀最 琀甀뼀„渀最甀礀윀琞㰀戀爀㸀ഀ਀        嘀 爀넀渞最 欀栀渀最 挀栀椀뼀渞 ᄀ 琀栀渀栀 挀渀最⸀㰀⼀椀㸀㰀⼀昀漀渀琀㸀㰀⼀瀀㸀ഀ਀      㰀⼀戀氀漀挀欀焀甀漀琀攀㸀ഀ਀    㰀⼀戀氀漀挀欀焀甀漀琀攀㸀ഀ਀  㰀⼀戀氀漀挀欀焀甀漀琀攀㸀ഀ਀㰀⼀戀氀漀挀欀焀甀漀琀攀㸀ഀ਀㰀瀀 愀氀椀最渀㴀∀樀甀猀琀椀昀礀∀ 猀琀礀氀攀㴀∀洀愀爀最椀渀ⴀ氀攀昀琀㨀 ㄀ 㬀 洀愀爀最椀渀ⴀ爀椀最栀琀㨀 ㄀ ∀㸀㰀昀漀渀琀 昀愀挀攀㴀∀䄀爀椀愀氀∀ 猀椀稀攀㴀∀㈀∀㸀䬀栀椀 戀椀뼀琞 琀椀渀 挀栀쬀„䠀 挀 琀栀愀椀Ⰰ 䈀挀 ഀ਀瘀椀뼀琞 琀栀뀀 挀츀渁 搀뜀渞⸀ ☀焀甀漀琀㬀倀栀ꌀ椞 挀꤀渞 琀栀관渞Ⰰ 渀뼀甞 欀栀渀最 挀꜀渞 欀瀀 氀꼀洞 琀栀 欀栀渀最 渀渀 挀뀀椞 渀最愞Ⰰ ഀ਀氀椞 猀甀턀椞 琀爀漀 ᄀ漀 瘀 氀洀 最 渀뜀渞最 渀섀„洀윀琞 渀栀촀挞 焀甀⸀ 䈀愀漀 最椀„挀 搀쬀瀞 䈀挀 猀봀„ᄀ뼁渞 琀栀츀洁 ഀ਀挀栀甀⸀⸀⸀☀焀甀漀琀㬀⸀ 䌀 氀봀„洀渀 焀甀 焀甀ﴀ 渀栀ꔀ琞 ᄀ턁椞 瘀椞 渀最뀀椞 渀栀관渞 氀 洀ꔀ礞 氀椞 䈀挀 搀뜀渞 搀 挀栀渀 ഀ਀琀渀栀Ⰰ 氀 挀甀 琀栀ꄀⰁ 戀椀 琀栀ꄀ ᄀ뀁挞 䈀挀 瘀椀뼀琞 琀뜀渞最 瘀椞 洀琞 渀휀椞 渀椀섀洞 琀洀 猀Ⱎ 洀琞 挀ꌀ洞 ഀ਀砀切挀 琀爀渀 ᄀ꜁礞 琀渀栀 渀最뀀椞Ⰰ 洀琞 渀椀섀洞 栀礀 瘀촀渞最 瘀섀„琀뀀ꄁ渁最 氀愀椀 琀뀀ꄁ椁 猀渀最 挀栀漀 渀最뀀椞 渀栀관渞 ഀ਀挀栀漀 琀ꔀ琞 挀ꌀ„ᄀꔁ琞 琀爀椞Ⰰ 渀栀渀 氀漀ꄀ椞⸀ 䬀栀椀 戀椀뼀琞 琀椀渀 挀„最椀 „䠀ꌀ椞 倀栀渀最 琀甀픀椞 ᄀ 琀爀渀 ഀ਀琀爀츀洁Ⰰ 瘀꬀渞 挀豈渀最 挀漀渀 挀栀甀 挀꜀洞 戀切琀 挀꼀瀞 猀挀栀 ᄀ椁 ☀焀甀漀琀㬀搀椀윀琞 最椀뜀挞 搀턀琞☀焀甀漀琀㬀Ⰰ 䈀挀 瘀椀뼀琞 琀栀뀀 欀栀攀渀 ഀ਀渀最椞 ☀焀甀漀琀㬀䌀„ᄀ 渀甀 琀ꔀ洞 最뀀ꄁ渁最 猀渀最 挀栀漀 挀漀渀 挀栀甀 渀漀椀 琀栀攀漀⸀⸀⸀☀焀甀漀琀㬀⸀ က촁挞 戀漀 䈀挀 戀椀뼀琞 琀椀渀 ഀ਀ᄀ椞 搀渀 焀甀渀 最椀Ⰰ ᄀ椞 氀漀 搀渀 焀甀渀 挀 琀栀渀栀 琀挀栀 戀꼀渞 爀ꄀ椁 洀礀 戀愀礀 䴀豈Ⱎ 䈀挀 最椞 ഀ਀琀栀뀀Ⰱ 琀뜀渞最 挀„欀栀攀渀 琀栀渀栀 琀挀栀⸀ 䜀椀뜀挞 䴀豈„渀洀 戀漀洀 爀愀 洀椀섀渞 䈀꼀挞㼀 䈀挀 琀뜀渞最 挀„琀栀뀀渞最 ഀ਀氀甀渀 氀뀀甁 挀栀漀 焀甀渀 瘀 搀渀 儀甀渀 欀栀甀 䤀嘀Ⰰ 挀栀漀 挀挀 琀준渞栀 琀甀礀뼀渞 ᄀ꜁甞 ☀焀甀漀琀㬀䌀„琀栀뀀渞最 氀甀渀 ഀ਀氀뀀甁☀焀甀漀琀㬀 挀愞 䈀挀 搀渀栀 琀栀뀀渞最 挀栀漀 渀栀渞最 ᄀꄁ渁 瘀쬀„戀꼀渞 爀ꄀ椁 渀栀椀섀甞 洀礀 戀愀礀 渀栀ꔀ琞 琀爀漀渀最 渀最礀Ⰰ ഀ਀琀爀漀渀最 琀栀渀最Ⰰ 琀爀漀渀最 渀츀洁Ⰰ 䌀栀漀 渀渀 挀„ᄀ뀁挞 挀栀甀礀섀渞 琀愀礀 渀栀愀甀 ᄀ椁 ᄀ뼁渞 挀挀 琀爀관渞 ᄀ쬁愞 渀ꄀ椁 ഀ਀渀渀最 戀케渞最 渀栀ꔀ琞 渀栀뀀 琀栀洀 猀挞 洀ꄀ渞栀 挀栀漀 挀挀 挀栀椀뼀渞 猀⤀ ☀焀甀漀琀㬀渀栀넀洞 琀栀대渞最 焀甀渀 琀栀豈 洀 戀꼀渞☀焀甀漀琀㬀Ⰰ ഀ਀焀甀礀뼀琞 瘀琀 挀픀„☀焀甀漀琀㬀琀栀꜀渞 猀ꔀ洞☀焀甀漀琀㬀Ⰰ ☀焀甀漀琀㬀挀漀渀 洀愀☀焀甀漀琀㬀 琀栀관琞 渀栀椀섀甞 搀渀最 䈀挀Ⰰ 搀渀最 吀픀„焀甀턀挞⸀㰀⼀昀漀渀琀㸀㰀⼀瀀㸀ഀ਀㰀瀀 愀氀椀最渀㴀∀樀甀猀琀椀昀礀∀ 猀琀礀氀攀㴀∀洀愀爀最椀渀ⴀ氀攀昀琀㨀 ㄀ 㬀 洀愀爀最椀渀ⴀ爀椀最栀琀㨀 ㄀ ∀㸀㰀昀漀渀琀 昀愀挀攀㴀∀䄀爀椀愀氀∀ 猀椀稀攀㴀∀㈀∀㸀䠀渀最 琀栀渀最 䈀挀 搀뜀渞 ᄀ팁渞最 挀栀 嘀뀀渞最 ഀ਀瀀栀„琀爀挀栀 欀栀攀渀 琀栀뀀渞最 倀栀„吀栀„吀뀀渞最Ⰰ 琀픀渞最 欀뼀琞 氀ꄀ椞 琀爀漀渀最 琀栀渀最 洀휀椞 琀준渞栀Ⰰ 洀휀椞 ഀ਀渀最渀栀Ⰰ 洀휀椞 戀Ⱎ 洀휀椞 琀爀뀀渞最 栀촀挞Ⰰ ᄀ漁渀 琀栀쌀„ᄀ뀁挞 䈀挀 琀栀뀀渞最 戀愀漀 渀栀椀甀 栀甀礀 栀椀윀甞⸀ 䌀 ഀ਀挀漀渀 猀턀„挀„琀栀쌀„ᄀ쌁„ᄀ椁섀甞 琀爀愀 砀攀洀 砀琀⸀ 嘀 猀愀漀 渀ꄀ椁 渀礀 渀栀椀섀甞 渀ꄀ椁 欀椀愀 琀 嘀 猀愀漀 琀Ⰰ 挀 ഀ਀瀀栀ꌀ椞 瘀 瀀栀漀渀最 琀爀漀 欀洀 栀愀礀 瘀 挀栀뀀愁 挀 戀漀 挀漀 欀쬀瀞 琀栀椞Ⰰ ᄀ쌁„渀栀꼀挞 渀栀„渀栀渞最 渀ꄀ椁 ഀ਀ᄀ⸀ 䠀渀最 渀最礀 䈀挀 ᄀ촁挞 戀漀Ⰰ 挀 琀椀渀 渀最뀀椞 琀턀琞 瘀椀윀挞 琀턀琞 䈀挀 琀栀ꔀ礞 琀栀뀀渞最 ᄀ뀁挞 栀甀礀 ഀ਀栀椀윀甞 氀 一最뀀椞 瘀渀最 琀爀渀 戀渀 挀ꄀ渞栀Ⰰ ᄀ팁渞最 挀栀 最椀切瀀 瘀椀윀挞 䈀挀 搀愞 琀爀渀 渀栀渞最 搀渀栀 搀ꔀ甞 ഀ਀ᄀ 洀 最椞 琀뜀渞最 栀甀礀 栀椀윀甞⸀ က뜁挞 戀椀윀琞 欀栀椀 琀栀뀀渞最 栀甀礀 栀椀윀甞 䈀挀 挀栀切 ﴀ 渀栀ꔀ琞 氀 渀栀渞最 ഀ਀渀最뀀椞 ᄀ椁 ᄀ꜁甞 欀栀椞 砀뀀渞最 瀀栀漀渀最 琀爀漀Ⰰ 挀渀 欀栀椀 ᄀ 琀栀渀栀 瀀栀漀渀最 琀爀漀 琀栀 瀀栀ꌀ椞 挀 ഀ਀琀栀渀栀 琀挀栀 挀愀漀 瘀 氀椀渀 琀挞⸀ 䌀栀쬀„倀栀ꄀ洞 吀栀쬀„嘀挀栀 渀最뀀椞 ᄀ椁 ᄀ꜁甞 琀爀漀渀最 瀀栀漀渀最 琀爀漀 琀栀甀„ഀ਀氀椞 挀愞 琀준渞栀 䠀ꌀ椞 䠀뀀渁最 䈀挀 最椞 琀栀뀀渞最 栀甀礀 栀椀윀甞 挀栀漀 挀栀쬀„嘀挀栀Ⰰ 挀渀 猀愀甀 ᄀ ᄀ 琀栀渀栀 ഀ਀瀀栀漀渀最 琀爀漀 挀 渀最뀀椞 ᄀꄁ琞 琀栀渀栀 琀挀栀 挀愀漀 栀ꄀ渁 挀栀쬀„嘀挀栀 渀栀뀀渁最 䈀挀 挀栀뀀愁 琀栀뀀渞最⸀ 䰀切挀 ഀ਀ᄀ꜁甞 挀栀甀礀渀 最椀愀 渀뀀挞 戀ꄀ渞 猀愀渀最 最椀切瀀 琀愀 挀渀 琀Ⰰ 䈀挀 琀뜀渞最 栀甀礀 栀椀윀甞 挀愞 一最뀀椞⸀ 嘀섀„猀愀甀 ഀ਀猀愀渀最 ᄀ渀最Ⰰ 渀栀椀섀甞 渀뀀挞 欀栀挀 渀栀愀甀Ⰰ 琀愀 挀栀„琀爀뀀ꄁ渁最 琀뜀渞最 栀甀礀 栀椀윀甞 栀甞 渀最栀쬀⸞ 䠀촀„欀栀渀最 ഀ਀琀栀挀栀Ⰰ 栀촀„戀ꌀ漞 栀甀礀 栀椀윀甞 䈀挀 䠀팀„焀甀ﴀ 栀ꄀ渁⸀ က椁 砀甀턀渞最 ᄀ쬁愞 瀀栀뀀ꄁ渁最 ᄀ쌁„欀栀甀礀뼀渞 欀栀挀栀 瀀栀漀渀最 ഀ਀琀爀漀 琀爀팀渞最 挀礀Ⰰ 䈀挀 挀栀준„挀礀 ᄀ愁 琀漀 渀最漀椀 ᄀ팁渞最 瘀椞 挀挀 ᄀ팁渞最 挀栀 挀渀 戀„ᄀ쬁愞 瀀栀뀀ꄁ渁最㨀 ഀ਀☀焀甀漀琀㬀䌀挀 挀栀切 戀椀뼀琞 欀栀渀最 欀栀椀 砀뀀愁 挀挀 挀„琀愀 琀爀팀渞最 挀礀 ᄀ愁 渀最漀椀 ᄀ팁渞最 氀 ᄀ쌁„欀栀椀 氀洀 洀윀琞Ⰰ ഀ਀琀爀椞 渀渀最 渀最뀀椞 琀愀 琀爀渀栀 渀渀最Ⰰ 栀팀椞 砀뀀愁 挀挀 挀„ᄀ 氀洀 ᄀ뀁挞 琀栀뼀Ⱎ 渀最礀 渀愀礀 挀栀대渞最 氀봀„ഀ਀挀漀渀 挀栀甀 欀栀渀最 戀椀뼀琞 渀漀椀 琀栀攀漀Ⰰ 琀爀팀渞最 渀栀椀섀甞 挀礀 栀ꄀ渁 ᄀ쌁„欀栀椀 ᄀ椁 琀爀渀 ᄀ뀁渞最 ᄀ甀 挀椀渁最 ഀ਀挀 戀渀最 洀琀⸀ 䬀栀椀 戀椀뼀琞 渀栀渞最 渀ꄀ椁 挀栀뀀愁 挀 瀀栀漀渀最 琀爀漀 琀爀팀渞最 挀礀 琀턀琞 挀 渀ꄀ椁 琀爀팀渞最 ഀ਀渀栀椀섀甞 渀栀뀀渁最 欀栀渀最 挀栀츀洁 猀挀 ᄀ쌁„挀礀 挀栀뼀琞 瘀 戀쬀„栀케渞最 渀栀椀섀甞Ⰰ 渀渀 栀椀윀甞 焀甀ꌀ„琀栀ꔀ瀞Ⰰ 琀栀ꔀ礞 ഀ਀瘀관礞 䈀挀 瀀栀琀 ᄀ渞最 瀀栀漀渀最 琀爀漀 ☀焀甀漀琀㬀䌀挀 挀„琀爀팀渞最Ⰰ 挀挀 挀栀甀 挀栀츀洁☀焀甀漀琀㬀Ⰰ 吀„ᄀ 洀椀섀渞 䈀꼀挞 瀀栀漀渀最 ഀ਀琀爀漀 琀爀팀渞最 挀礀 瀀栀琀 琀爀椀쌀渞 瘀渞最 挀栀꼀挞 栀ꄀ渁⸀㰀⼀昀漀渀琀㸀㰀⼀瀀㸀ഀ਀㰀瀀 愀氀椀最渀㴀∀樀甀猀琀椀昀礀∀ 猀琀礀氀攀㴀∀洀愀爀最椀渀ⴀ氀攀昀琀㨀 ㄀ 㬀 洀愀爀最椀渀ⴀ爀椀最栀琀㨀 ㄀ ∀㸀㰀昀漀渀琀 昀愀挀攀㴀∀䄀爀椀愀氀∀ 猀椀稀攀㴀∀㈀∀㸀䈀挀 ᄀ뜁挞 戀椀윀琞 焀甀愀渀 琀洀 ᄀ뼁渞 渀最渀栀 ഀ਀最椀漀 搀挞Ⰰ 瘀 渀뀀挞 洀甀턀渞 洀ꄀ渞栀 搀渀 琀爀 瀀栀ꌀ椞 挀愀漀⸀ က꜁甞 琀뀀Ⰱ 焀甀愀渀 琀洀 ᄀ뼁渞 最椀漀 搀挞 氀 ഀ਀瘀椀윀挞 氀洀 挀栀漀 琀뀀ꄁ渁最 氀愀椀Ⰰ 猀愀甀 欀栀椀 挀挀栀 洀ꄀ渞最 琀栀渀栀 挀渀最 䈀挀 瘀椀뼀琞 氀 琀栀뀀 ᄀ꜁甞 琀椀渀 氀 ഀ਀氀 琀栀뀀 最椞 栀촀挞 猀椀渀栀 渀栀渀 渀最礀 欀栀愀椀 琀爀뀀渞最 ᄀ꜁甞 琀椀渀 挀愞 渀뀀挞 嘀椀윀琞 一愀洀 洀椞⸀ 吀爀漀渀最 ഀ਀猀턀„氀꜀渞 ᄀ椁 琀栀츀洁 挀挀 挀ꄀ 焀甀愀渀 ᄀꄁ渁 瘀쬀Ⱎ ᄀ쬁愞 瀀栀뀀ꄁ渁最⸀⸀⸀ 䈀挀 搀渀栀 渀栀椀섀甞 氀꜀渞Ⰰ 渀栀椀섀甞 琀栀椞 ഀ਀最椀愀渀 瘀섀„琀栀츀洁 挀挀 琀爀뀀渞最 栀촀挞⸀ 䈀挀 焀甀愀渀 琀洀 ᄀ뼁渞 渀最渀栀 最椀漀 搀挞 欀栀渀最 挀栀준„琀爀渀 最椀ꔀ礞 ഀ਀琀„洀 „渀栀渞最 挀栀渀栀 猀挀栀⸀ 䈀挀 挀츀渁 搀뜀渞 挀挀 挀渀 戀„琀„吀爀甀渀最 뀀ꄁ渁最 ᄀ뼁渞 ᄀ쬁愞 瀀栀뀀ꄁ渁最Ⰰ ഀ਀挀挀 渀最渀栀Ⰰ 挀挀 ᄀ漁渀 琀栀쌀„瀀栀ꌀ椞 砀攀洀 最椀漀 搀挞 氀 猀„渀最栀椀윀瀞 挀愞 琀漀渀 砀 栀椞Ⰰ 琀栀쌀„栀椀윀渞 ഀ਀„琀爀漀渀最 挀挀 挀栀„琀爀뀀ꄁ渁最Ⰰ 挀栀渀栀 猀挀栀 瀀栀ꌀ椞 ᄀ뀁挞 琀栀挞 琀栀椀 琀爀漀渀最 挀ꄀ 挀栀뼀„琀栀挀栀 栀瀞⸀ ഀ਀䈀挀 琀뜀渞最 琀栀뀀渞最 挀栀漀 最椀漀 瘀椀渀 搀ꄀ礞 最椀케椞Ⰰ 挀栀漀 栀촀挞 猀椀渀栀 栀촀挞 最椀케椞⸀ 䜀椀ꌀ椞 琀栀뀀渞最 氀 ഀ਀洀琞 挀甀턀渞 猀픀„ᄀ뜁琞 琀渀 氀 ☀焀甀漀琀㬀䜀椀ꌀ椞 琀栀뀀渞最 䈀挀 䠀팀☞焀甀漀琀㬀⸀ 䬀栀椀 氀洀 挀甀턀渞 猀픀„琀栀뀀渞最 䈀挀 搀뜀渞Ⰰ ᄀ礀 ഀ਀氀 最椀ꌀ椞 琀栀뀀渞最 渀栀뀀渁最 渀渀 挀 最椀ꔀ礞 挀栀漀 挀挀 挀栀甀 搀豈渀最Ⰰ 猀픀„瀀栀ꌀ椞 欀묀„栀渀最 挀栀漀 挀挀 挀栀甀 ഀ਀搀씀„瘀椀뼀琞Ⰰ 椀渀 琀渀 琀爀뀀渞最Ⰰ 氀瀞Ⰰ 琀渀 栀촀挞 猀椀渀栀⸀ 吀爀渀 琀爀愀渀最 ᄀ꜁甞 椀渀 㔀 ᄀ椁섀甞 䈀挀 䠀팀„搀ꄀ礞 ഀ਀琀栀椀뼀甞 渀栀椀⸀ 一栀渞最 焀甀礀쌀渞 猀픀„最椀ꌀ椞 琀栀뀀渞最 ᄀ 爀愀 ᄀ椞 渀츀洁 ᄀ꜁甞 琀椀渀 挀愞 挀栀渀栀 焀甀礀섀渞 ഀ਀挀挀栀 洀ꄀ渞最Ⰰ 氀 渀最甀팀渞 ᄀ渞最 瘀椀渀 氀渞 氀愀漀 挀栀漀 琀栀꜀礞 瘀 琀爀 氀관瀞 琀栀渀栀 琀挀栀 琀爀渀 洀뜀琞 ഀ਀琀爀관渞 最椀漀 搀挞⸀ 匀愀甀 渀礀 渀最渀nh giáo dục đề ra tiêu chuẩn đạt giải thưởng Bác Hồ" quá cao, các môn học phải đạt điểm 10 và đạo đức tốt. Bác có ý kiến đối với các cháu học sinh dân tộc ít người nên châm chước có thể có điểm 9 vẫn được thưởng. Từ khi phát động phong trào đến nǎm 1968 tổng kết lại ngành giáo dục đã nhận được 6210 giải thưởng của Bác Hồ, trong đó có 423, giải tặng cho giáo viên dạy giỏi có thành tích tốt.

Món quà Bác tặng, tuy nhỏ bé nhưng mang một ý nghĩa thiết thực, mà Bác gửi gắm vào đó một điều mong muốn, một lời khuyên chân tình. Có lần anh em trẻ mới bổ sung làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, vì chưa quen một số nguyên tắc bảo vệ nên thường có mặt hạn chế. Khi thấy Bác có đôi đũa đẹp, anh em bànnhau dấu đi, mỗi người cắt một khúc giữ trong mình làm kỷ vật. Đồng chí phụ trách phê bình anh em gay gắt. Biết chuyện, Bác lấy tặng mỗi người một cuốn sổ với lời đề tặng. Anh em rất sung sướng và cuốn sổ ngày ngày được anh em dùng ghi những việc làm tốt, những suy nghĩ hay: Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam còn lưu giữ hai kỷ vật Bác tặng, đó là chiếc máy quay đĩa và ghi âm vào đĩa nhựa hiệu Wilox má bà con Việt kiều tặng Bác khi Bác sang Pháp nǎm 1946. Chiếc đồng hồ Rolex Royal do Việt kiều ở Thái Lan tặng Bác, Bác cũng tặng lại đài.

Bác viết hàng nghìn bài báo, khi có nhuận bút vǎn phòng đều gửi vào tiết kiệm, đến nǎm 1967, tổng số tiền lên đến 25.000 đồng (tương đương 60 cây vàng), khi biết, bộ đội pháo binh trực chiến dưới trời nóng, khát nước, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ chuyển số tiền đó để mua nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không. Bác lo cho con người từ cái nhỏ nhất đến việc lớn, Bác quan tâm từ người cán bộ đến anh em chiến sĩ, dù ở đâu, hoàn cảnh nào. Nhớ lần họp Hội đồng Chính phủ tại thôn Chúc Sơn đầu nǎm 1948, đồng chí Hoàng Hữu Nam nhờ cụ chủ nhà mua hộ cho 20 quả trứng luộc để anh em ǎn về đêm cho đỡ đói Giữa cuộc họp Bác đến, cùng lúc đó rổ trứng được mang đến, Bác biết số trứng không đủ cho số người họp, nhưng nhất định từ chối không được, Bác vờ lấy một quả như mọi người. Có lần nhân ngày sinh nhật Bác, ở chiến khu anh em phục vụ cố gắng cải thiện bữa ǎn tươi. Gần trưa Bác đứng hóng mát ở bóng cây thấy một đồng chí cán bộ đi công tác, phi ngựa qua, Bác cho gọi lại và mời vào ǎn cơm thân mật với Bác và anh em nhân ngày vui. Được biết bố đẻ liệt sỹ Lý Tự Trọng (thời kỳ Bác hoạt động ở Thái Lan, ông này thường mời Bác những món ǎn dân tộc mà Bác rất thích) ra Hà Nội, Bác cho mời vào nơi Bác, trong không khí hàn huyên nhớ thủa hàn vi, Bác mời ǎn những món ǎn xưa như để nhắc lúc nào cũng nhớ về nhau như đôi bạn tri kỷ. Hồi ở chiến khu, Bác tiếp anh hùng La Vǎn Cầu, khi anh qua một trận chíến đấu rất anh dũng. Đến bữa cơm Bác nói chân tình để anh ǎn được nhiều cơm: "Hôm nay Bác thết chú, chú ǎn đừng làm khách nhé, bởi toàn "cây nhà lá vườn" cả, này nhé rau xanh Bác trồng, gà Bác nuôi, trứng là trứng gà Bác nuôi đẻ đấy, chỉ có mǎng muối là phải mua thôi. Chú ǎn thật no đấy!". Hai Bác cháu chuyện trò vui vẻ bữa ǎn anh Cầu ǎn được nhiều hơn bình thường. Tối đó Bác lưu anh Cầu ở lại ngủ qua đêm. Bác quý, Bác xem anh như con đẻ. Sau này về Hà Nội, tại cuộc họp Quốc hội, khi nghỉ giải lao, Bác gọi anh Cầu lại hỏi thǎm sức khoẻ, gia đình. Biết anh Cầu đã có vợ, con. Vợ anh, là chiến sỹ thi đua ngành công nghiệp giấy Trần Thị Thanh, Bác hỏi anh Cầu: "Thế cô ấy có lớn lên được tý nào không?". Hôm sau Bác mời cả nhà anh vào thǎm Bác tại Phủ Chủ tịch. Bác ân cần, chu đáo quan tâm đến con người là vậy, nhớ lần Bác đến thǎm bệnh viện Khu tự trị Việt Bắc, Bác hỏi người phụ trách trong bệnh viện có bệnh nhân nào nặng nhất, cho Bác đến thǎm. Bác được dẫn đến chỗ chị cấp dưỡng khu gang thép Thái Nguyên, chị bị bỏng đến 80%, lúc đó chị đã qua cơn nguy kịch nhưng vẫn nằm bất động, Bác đến gần giường ân cần hỏi:"Cháu có đau lắm không?". Biết bệnh tình nguy kịch Bác rất lo cho tính mạng chị Bác dặn y bác sĩ: "Bệnh nặng thế liệu có chữa khỏi không? Các cô các chú cố gắng cứu lấy chị". Bác đến thǎm như thêm sức mạnh kỳ diệu cho chị và cả tập thể y bác sĩ, họ đã quyết tâm vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo.

Những chuyến đi xuống thǎm các cơ sở sản xuất, thǎm nhân dân, mặc dầu đã có chương trình bố trí cho Bác đi, nhưng Bác vẫn có cách tiếp xúc trực tiếp với dân. Một lần nhân đầu nǎm mới Bác lên Vĩnh Phú thǎm và chúc tết Các đồng chí cấp tỉnh đã chuẩn bị một số nơi cho Bác đến. Bác biết, nên Bác chưa đến những nơi đó trước. Bác vào thǎm một gia đình của một đồng chí dang chiến đấu ở miền Nam, Bác ân cần hỏi thǎm sức khoẻ gia đình việc học hành của các cháu và sự quan tâm của địa phương ra sao, chị chủ nhà nói những gì có thật, khác xa sự báo cáo của địa phương, Bác không vui, Bác phê bình thế là không tốt với dân, lừa dối cấp trên. Khi tập trung nói chuyện với nhân dân các đồng chí cán bộ thì ngồi gần Bác, còn các cụ thì ngồi phía sau chỗ xa Bác đứng. Bác trực tiếp sắp xếp lại, Bác mời các cụ lên ngồi gần Bác, rồi Bác mới bắt đầu nói chuyện. Bác rất biết những nhược điểm của một số cán bộ thường mắc bệnh hình thức chủ nghĩa, cho nên khi đi đâu thǎm dân, Bác dặn các đồng chí phục vụ, bảo vệ không được cho cán bộ địa phương biết trước. Một lần Bác xuống thǎm nhà trẻ, Bác đi vào cổng giữa trời nắng chang chang đã thấy hai dãy hàng các cháu, quần áo ǎn mặc chỉnh tề, cháu nào mặt cũng đỏ gay vì nắng. Thấy Bác các cháu rất vui, Bác cùng hoà trong niềm vui với trẻ thơ như để bớt đi nỗi vất vả mà các cháu phải chịu đựng khi chờ đợi Bác. Nhưng khi về Bác phê bình, vì sao "để lộ ra" , vì sao bắt các cháu đứng giữa nắng. Tết nǎm 1962, theo kế hoạch ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội bố trí Bác đi chúc tết một số gia dình, Bác dặn đồng chí phục vụ ngoài chương trình của thành phố bố trí cho Bác đi thǎm một số gia đình còn khó khǎn. Sau khi "hoàn thành" chương trình của thành phố, Bác vào phố hàng Hàng Chĩnh đến thǎm nhà chị Tín. Chị đi gánh nước thuê ra đến ngõ thì gặp Bác, cảm động quá đôi quai thùng rơi xuống đất. Bác đến gần ôn tồn động viên chị, hỏi thǎm sức khoẻ gia đình và học hành của các cháu. Được biết chồng mất sớm, một mình nuôi bốn con còn nhỏ, thiếu ǎn, thiếu mặc nên các cháu thất học. Nhìn trong nhà thấy không có gì cả, Bác hỏi; "Thế mẹ con cô ǎn tết thế nào?". Chị trả lời trong nước mắt: "Dạ thưa Bác không có gì để đón tết cả, cả nhà chỉ còn một lon gạo để dành sáng mồng một tết nấu cháo cho các cháu ǎn, nên tuy nǎm hết tết đến cũng phải tranh thủ đi gánh nước thuê, kiếm ít tiền mua cái gì cho các cháu". Nghe vậy, Bác rất cảm động. Bác tặng quà cho các cháu và dặn: "Cố gắng sǎn sóc các cháu", Chị cảm động nói? "Không ngờ như gia đình cháu mà Bác cũng đến thǎm". Bác ân cần bảo: "Bác không đến thǎm những gia đình như gia đình cô thì thǎm ai". Khi xe đưa Bác về đến nhà thì gia đình một số đồng chí cán bộ vui mừng ra đón Bác, chúc tết Bác. Nhưng tất cả bỗng im lặng và đi chậm lại khi thấy Bác đi chúc Tết về mà không vui, vào nhà, Bác kể chuyện đến thǎm gia đình chị Tín cho mọi người nghe, và Bác nhấn mạnh: "Ta có chính quyền trong tay nhưng không sát dân, cho nên phục vụ nhân dân chưa tốt". Sáng hôm sau mặc dầu mồng một Tết Bác cho gọi đồng chí Chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố lên và nói lại chuyện trên, Người nghiêm khắc nhắc nhở chung cán bộ thành phố chưa sâu sát dân, chưa biết cách tổ chức vận động nhân dân "lá lành đùm lá rách" có nhiều gia đình Tết đến mà không có Tết, đó là lỗi của cán bộ không gần dân, ta có chính quyền nhưng chưa gần và hiểu dân". Bác đến thǎm dân, Bác tới những nơi cán bộ ít hoặc không bước chân đến, nơi đó người dân phải chịu đựng nỗi vất vả, gian nan.

Nhớ lần Bác đến thǎm một cơ quan Bác đi thẳng vào nhà ǎn, Bác bước xuống chỗ nhớp nháp, trơn, đồng chí cán bộ lãnh đạo cơ quan vội thưa Bác là chỗ đó bẩn, dễ ngã, đồng chí mời Bác đi hướng khác, nhưng Bác không nghe, Bác nói: "Bác đi lối này để chú biết lần sau dọn cho sạch sẽ". Vào nhà ǎn Bác xem kỹ tường, trần nhà, nền nhà bàn ǎn, Bác chỉ vào chỗ ruồi đang bay, Bác bảo: Hình như có tiếng vè vè của máy bay "trực thǎng". Bác phê bình, đại ý "hồi xưa thằng Tây nó to, ác như thế, nó có súng to súng nhỏ mà ta còn đánh được, thế mà bây giờ con ruồi nó không có súng, nó không to thế mà các cô các chú không đoàn kết tiêu diệt được nó". Bác phê bình là vì sức khoẻ của anh em cán bộ, Bác mong mọi người cùng nhau tiến bộ không chỉ ở những công việc lớn lao mà ngay cả những việc tưởng tầm thường nhỏ nhặt. Có lần đến thǎm đơn vị, thấy một đồng chí có vết bẩn ở mặt mà đồng chí không chú ý nên không biết. Bác đến gần ân cần lấy khǎn mặt của mình lau cho đồng chí và phê bình nhẹ:"Lần sau chú phải chú ý hơn". Tết nǎm 1956, Bác đến thǎm trường thương binh hỏng mắt, Bác vui vẻ nói chuyện với anh em thương binh. Bác rất khen ngợi tinh thần khắc phục khó khǎn, bệnh tật, luôn cố gắng phấn đấu vươn lên Bác rất vui lòng khi được biết số tiền Bác tặng đã được dùng vào trồng rau, nuôi lợn cải thiện bữa ǎn cho anh em. Bác ân cần động viên: Các chú được học chữ, học nghề sau này phục vụ nhân dân được tốt hơn, như vậy các chú "tàn nhưng không phế". Thời kỳ kháng chiến ở chiến khu, khi nghe tin đôi trai gái Bác quen biết, tổ chức lễ cưới Bác bận không đến được, Bác gửi thiếp chúc mừng:

"Chúc Lương Thuận đoàn kết chặt chẽ. Ký tên Hồ Chí Minh" Lần sau nhân dịp đi công tác Bác ghé thǎm nhà, anh chị là cán bộ tài chính nhưng kinh tế cũng như mọi gia đình khác vào nhà không có bàn ghế ngồi Bác bảo ra ngồi ngoài thềm cho thoáng mát, Bác ngồi xuống vỉa hè bảo chị Thuận và mọi người cùng ngồi cạnh, Bác hỏi thǎm mọi mặt, Bác khuyên nên tích cực tǎng gia sản xuất, thấy cháu bé con chị ngồi trong xe cút kít làm bằng gỗ, Bác bế cháu âu yếm, dỗ dành bón từng thìa cơm cho cháu. Nhớ hồi ở Pác Bó, khi vào bản thǎm bà con thấy các cháu nhỏ nghịch dơ bẩn không tắm giặt, Bác bảo các đồng chí cùng đi tìm một cây gỗ lớn về làm một cái máng đựng nước rồi tắm cho các cháu. Thời kỳ Bác ở Trung Quốc, có lần đến tuyên truyền cách mạng trong anh em công nhân đường sắt Bác ở tạm trong một cơ sở tin cậy, thời gian rỗi Bác thường tham gia lao động giúp gia đình, như chặt củi, hái rau, nấu cơm. Thấy chị chủ nhà vất vả, lo toan mọi việc, Bác không nề hà giúp chị trong những công việc của người phụ nữ. Gia đình có cháu bé hay khóc, Bác dỗ rất khéo tắm giặt sạch sẽ, khéo vỗ về nên khi Bác cho ǎn cháu thường ǎn được nhiều, từ đó, cháu ít khóc, chóng lớn, không những chỉ chủ nhà mà mọi người ai cũng khen và phục tài cúa Bác. Có lần Bác gặp gỡ các anh hùng lực lượng vũ trang, thấy cô gái nhỏ bé, Bác đến gần và hỏi:

"Cháu là gì", cô gái thưa với Bác: "Dạ thưa Bác, cháu là dân quân" Bác vui vẻ nói: "Là dân quân, cháu vừa là dân, vừa là quân, hai nhiệm vụ nặng nề cháu có vất vả lắm không?".
Thường thường trước ngày duyệt binh kỷ niệm Quốc khánh 2-9, Bác đến thǎm các lực lượng tham gia duyệt binh thử, Bác nói đại ý, hôm nay Bác đến để các cô các chú nhìn thấy Bác trước, ngày mai tại quảng trường Ba Đình trước toàn dân và khách quốc tế các cô các chú lo làm cho đúng động tác, khỏi ảnh hưởng đến quân thể và uy tín của các lực lượng vũ trang.

Bác Hồ gần với dân là vậy. Không chỉ xuất phát từ nỗi lo toan của vị Chủ tịch nước với dân mà còn là tình thương yêu con người với con người. Bác lo lắng giáo dục đội ngũ cán bộ vừa có tài nhưng phải có đức. Bác theo dõi sự tiến bộ của cán bộ từ học hành, công tác đến các mối quan hệ với dân. Bác thương yêu giúp đỡ những người yếu, những hoàn cảnh khó. Nỗi lo, tình thương ở Bác đã trở thành tâm linh của một vĩ nhân, một bậc thánh hiền.

 
g